|
|

Con khỉ nhà ông Nhàn
Ngày xưa
đi học trường làng, sáng nào cũng phải đi qua ngõ nhà ông Nhàn. Ông Nhàn sống
một mình độc thân, thủ kho của một xí nghiệp nhỏ. Chẳng hiểu sao ông không có
vợ con, nhưng ông có một con khỉ. Hàng ngày đi làm về ông cho khỉ ăn như cho
người ăn vậy, ông có một bát cơm nó cũng có một bát cơm, ông ăn cá nó cũng ăn
cá, ông đối xử với nó như với người, chỉ khác là con khỉ phải sống trong một
cái lồng bằng sắt, ông không dám thả nó ra, vì nó phá lắm.
Bọn trẻ
con chúng tôi thường tới nhà ông để trêu khỉ, mà con khỉ cũng rất đáo để, hễ
mấy thằng con trai bọn tôi đến trêu nó thì nó coi như điếc, không thèm phản ứng
gì. Nhưng lần nào mà có thêm mấy đứa con gái đến là cu cậu nhảy chồm chồm, thi
thoảng ngếch cái chân lên gãi dái soàn soạt. Những lúc ấy bọn con gái kêu rú
lên, con khỉ lại tỏ ra thích chí kêu éch éch...
Mùng 2
tháng 9 quê tôi năm nào cũng mưa, có người nói ông Trời khóc bác Hồ chết vì bác
chết vào ngày 2 tháng 9 trùng với ngày quốc khánh.
Sáng mùng
2 tháng 9 năm ấy tôi dậy sớm để đi chơi, đi mừng quốc khánh, qua đến ngõ nhà
ông Nhàn thì mưa to quá, tôi phải vào trú mưa ở nhà ông. Ông Nhàn hôm nay cũng
được nghỉ để mừng quốc khánh. Khi tôi vào thì thấy ông đang hương khói nghi
ngút, chắp tay khấn vái vẻ rất thành tâm, nhưng tôi giật mình thấy trên bàn thờ
có con khỉ đang ngồi chồm chỗm, một tay cầm miếng xôi, một tay đang gãi dái,
mồm thì nhai nhồm nhàm.
Tôi chờ
ông khấn xong thì mới bước vào, lúc này ông Nhàn đã bế con khỉ vào lòng vuốt
vuốt, rồi ông hôn vào má nó vẻ âu yếm lắm.
- Bác cúng
con khỉ à. -Tôi hỏi ông.
Ừ vì nó là
tổ tiên của chúng ta đấy cháu à. Rồi ông nói một mạch về học thuyết tiến hóa mà
ông đã được học trong trường đảng.
Tôi chưa
kịp hỏi những thắc mắc thì ông Nhàn nói tiếp:
- Ai không
cúng tổ tiên, nhớ đến cội nguồn là bất hiếu với tổ tiên, bất trung với đảng.
Nói thật
lúc ấy tôi cũng tin khỉ là tổ tiên loài người, nhưng tôi chưa thấy ai đem tổ
tiên lên bàn thờ như ông Nhàn, ở nhà bố mẹ tôi chỉ cúng ông, bà, cụ, kị không
quá năm đời. Tôi hỏi bố tôi thì bố tôi nói một câu cộc lốc: Tao không phải là
đảng viên thì sao tao phải cúng khỉ.
Năm 2004,
tôi về thăm quê, ông Nhàn đã chết, nơi ông ở ngày xưa nay mọc lên một nhà hàng
đặc sản 5 tầng, khách ra vào mườn mượt, nhà hàng phục phụ đủ các món quý hiếm
từ thịt tê tê, rắn rùa... tới... khỉ…
Chủ nhà
hàng là bạn học cũ, thấy tôi thì mừng lắm. Hắn đưa tôi lên tít tầng năm, mỏi cả
chân, nhưng hắn giải thích chỉ có khách quý, cán bộ, đại gia mới được lên tầng
năm, vừa nhậu vừa ngắm cảnh, mà lại yên tĩnh thỏa mái bàn công việc.
Tầng năm
có chừng chục cái bàn, bàn nào cũng chật kín cả, nhưng khách ở đây có vẻ lịch
sự hơn, có nghĩa là họ ăn uống lặng lẽ không ồn ào như tầng dưới, hầu hết đều
mặc comlê ca vát lịch sự.
Thằng bạn
nói nhỏ vào tai tôi, toàn cán bộ cả đấy, không đảng viên thì cũng là đại gia,
chủ doanh nghiệp.
Ở cái bàn
cạnh tôi có khoảng chục người họ đang ăn óc khỉ. Họ ăn theo kiểu “dã man”, theo
cách hiểu của tôi. Nghĩa là con khỉ còn sống họ trói chân trói tay nó nhét vào
một cái lồng sắt, đầu của con khỉ được thò lên một nửa, nhân viên nhà hàng rất
thiện nghệ, chỉ một nhát dao lướt qua họ đã lột cái sọ con khỉ ra, để lộ bộ óc
còn đang động đậy. Rồi họ lấy thìa múc óc khỉ ăn với bồ tạt. Nghe nói ăn vậy
rất bổ cho sinh lý. Con khỉ đau đớn muốn nhẩy, muốn hét nhưng vô vọng, vì nó đã
bị buộc chặt và bị bịt mồm bằng dải băng dính đến tận tai.
Bữa đó tôi
không ăn được gì, khi về cứ nghĩ đến con khỉ trên nóc tủ nhà ông Nhàn.
David Trần

Tiểu thuyết của HOÀNG MINH TƯỜNG
|
Hoàng Minh Tường
THỜI CỦA THÁNH THẦN
Phần I - CƠN GIÓ BỤI
Chương 1: Nguyễn
Kỳ Viên
|
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2008
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trung Trung
Đỉnh
Chịu trách nhiệm bản thảo: Nguyễn Khắc
Trường
Biên tập: Tạ Duy Anh
Giấy đăng ký KHXB số:
691-2008/CXB/07-33-HNV
Số QĐ xuất bản của giám đốc:
335/QĐ-NXBHNV
In xong và nộp lưu chiểu Quý III năm
2008
**** **** ****
Chương 1: Nguyễn Kỳ Viên
Nghe tin
ngôi từ đường chi họ Nguyễn Kỳ chuẩn bị được tái dựng
lại, khắp huyện Phương Đình bàn tán xôn xao rằng ông Cục, tên huý là
Nguyễn Kỳ
Quặc, con nuôi của ông bà Lý Phúc, đào được lọ vàng dưới gầm bàn thờ tổ.
Không vớ
được của, làm sao một lão vừa điếc vừa què, cánh tay mềm
oặt lủng lẳng như cái dẻ khoai nước, với một bà vợ ốm o và một đàn con
lúc
nhúc, vắt mũi không đủ vứt vào mồm, bỗng dưng bỏ ra hàng mấy chục cây
vàng để
mua lại sáu ngôi nhà của bà con nông dân được chia hồi cải cách ruộng
đất, rồi
đùng một cái, phá dỡ sạch bách không còn đến một cái móng, để chuẩn bị
xây khu
từ đường mới, nghe nói không thua kém gì Văn miếu Quốc Tử Giám ngoài Hà
Nội?
Thì ra ông trời cũng có mắt cả đấy. Người ta là con nuôi con đòi, chẳng
máu mủ
ruột rà gì, nhưng ăn ở có nhân có đức, ắt Trời Phật độ trì.
Người ta
bịa ra hẳn một câu chuyện rất ly kỳ. Rằng một đêm kia,
đang ngủ, ông Cục bỗng ngồi vục dậy người toát hết mồ hôi, chân tay bủn
rủn. Rõ
ràng ông vừa nhìn thấy một người mặc toàn đồ trắng, râu tóc dựng ngược
đang
trồng cây chuối trước gian giữa nhà thờ tổ. Hoảng hốt, ông Cục lấy tay
che mặt
không dárn nhìn. Đúng là ông Lý Phúc, bố nuôi của Cục, đã chết trong vụ
đấu tố
đợt một thời cải cách ruộng đất.
- Cục
ơi, thầy đây mà, đừng sợ… - Người trồng cây chuối bỗng cất
lên tiếng trầm khàn, tiến đến gần Cục.
- Con
lạy thầy, thầy sống khôn chết thiêng, thầy hiện về đây dạy
bảo vợ chồng con điều gì? - Cục cầm bàn tay bị liệt đưa lên, vái lạy rối
rít -
Con cắn rơm cắn cỏ lạy thầy. Con chỉ đấu tố thầy một buổi thí điểm… Con
không
gây nên cái chết cho thầy… oan con lắm thầy ơi…
Bóng áo
trắng bỗng cất tiếng cười vang. Tiếng cười trong đêm rờn
rợn như tiếng tre đưa ken két ngoài bờ ao.
- Chuyện
cũ qua rồi. Con đừng cả nghĩ. Thầy biết mà. Thời cuộc lúc
ấy nó khốn nạn thế. Tránh không được. Toàn bọn dòi bọ cua ếch lên làm
người.
Thế nên thầy tự chọn lấy cái chết. Một cái chết không toàn thây, cái
chết đau
đớn nhất…
- Vâng.
Con thấy em Hậu nằm vắt trên bậc cửa, nghĩ nó chết, con
hoảng quá. Đến khi nhìn thấy thầy treo ngược thân từ trên xà nhà thì con
thất
kinh…
- Tự
thầy nghĩ ra cách chết ấy đấy. Thầy bắc thang trèo lên cái chếnh
nhà kia, lấy sợi thừng trâu buộc chặt vào ngón chân cái tính đoạn thừng
vừa đủ
khoảng cách nối người với mặt đất, rồi thầy đâm đầu xuống…
- Lúc ấy
con vừa ở nhà kho về. Đội cải cách bắt đầu nghi ngờ con,
chỉ cho con canh nhà kho ban ngày. Vừa mở cửa bước vào con liền kêu thét
lên,
tưởng ma hiện trong nhà thờ. Chân thầy treo lơ lửng trên đoạn dây thừng,
nối
với xà nhà, đầu thầy gieo xuống nền gạch, vỡ ra, óc trắng xoá hoà với
máu thâm
đen trên sàn. Một cái chết không toàn thây.
- Cảm
giác gieo đầu xuống đất là một cảm giác mạnh, thú vị biết
bao. Thầy không treo cổ chính là muốn được hưởng cảm giác mạnh, muốn
được chết
không toàn thây… Nhưng thôi, chuyện cũ rích rồi. Những kẻ bày đặt ra
cảnh con
giết cha, vợ giết chồng giờ đã chết cả rồi. Cho qua chuyện cũ đi con…
- Dạ
vâng… Nhưng… thầy còn oan ức gì? Sao thầy lại về… - Giọng ông
Cục bỗng run bắn.
- Đã bao
nhiêu năm thầy nung nấu về điều này… Bây giờ mới dám nói
với con… Lẽ ra thằng cả Khôi, thằng hai Vỹ, thằng ba Vọng phải lo việc
này.
Nhưng
chúng là những kẻ phát vãng, vong bản. Chúng không thiết đến
quê hương, không coi trọng gia đình, thậm chí chỉ nghĩ đâu đâu, thế giới
đại
đồng, không muốn có tổ quốc nữa… Thầy đau lắm…
- Các
anh ấy đi làm cách mạng… Con đui què mẻ sứt nên mới quẩn
quanh xó bếp.
- Ba
thằng anh con, mang tiếng là con đẻ của thầy u, nhưng coi như
vứt. Thằng Nguyễn Kỳ Khôi là trưởng, nhưng thầy từ nó rồi. Thằng hai
Nguyễn Kỳ
Vỹ mặt trắng thư sinh, thuộc loại “lập thân tối hạ thị văn chương”. Loại
người
như nó suốt đời chỉ bồi bút thì được chứ không bao giờ được tin dùng.
Hiền lành
như thằng ba Vọng, thì lại phát vãng, vật vờ lê lết quê người… Chỉ còn
con
thôi, Cục ạ. Con mới là người hiếu đễ trông nom hương hoả. Vì thế thầy
mới bàn
với con về việc dựng lại ngôi từ đường chi họ Nguyễn Kỳ… Ngôi nhà cốt
nhất cái
nóc. Dòng họ cốt nhất mồ mả tổ tiên, bàn thờ gia tộc. Không có những
điều linh
thiêng đó, còn chi cái giống người? Thấy chi họ Nguyễn Kỳ nhà ta phát
tán đi muôn
nơi, anh em thù ghét nhau, thầy đau buồn lắm. Thầy chết mà không siêu
thoát
được con ạ…
- Lạy
thầy đã dạy. Con tuy không phải do thầy u đẻ ra, nhưng ơn
dưỡng dục còn hơn cả công sinh thành. Ngày nhỏ con được thầy cho học ít
chữ
thánh hiền, con phần nào cũng hiểu được đạo lý làm người…
Bóng áo
trắng lại cười khà khà, ra chiều đắc ý:
- Thế
cho nên thầy mới trông giỏ bỏ thóc… Bao nhiêu năm dạy học và
bốc thuốc, thầy có tích góp được một ít vàng. Thầy chôn ở chân cột nhà
thờ… Số
vàng ấy đủ cho con chuộc lại đất của mấy hộ ông bà cố nông và sửa sang
lại ngôi
từ đường chi họ Nguyễn Kỳ…
Câu
chuyện người và ma gặp nhau như chuyện Liêu Trai ấy, không
biết do ông Cục kể lại hay ai đó sáng tác ra mà một dạo cứ xầm xì lan đi
khắp
làng Động. Phần sau câu chuyện có thể do nhiều người đơm đặt, chứ phần
đầu thì
đích thị là của ông Cục. Chuyện ông Cục vẫn thường gặp bóng người quần
áo trắng
trồng cây chuối trong nhà thờ là chuyện hoàn toàn có thật, nhất là những
năm
sau cải cách và thời kỳ thành lập hợp tác xã nông nghiệp. Ông thì thào
với vợ.
Ông vừa thắp hương lầm rầm khấn vái vừa thuật lại với bà Lý Phúc. Ông kể
bô bô
ngoài đồng: “Tôi nói sai tôi là con chó. Ông cụ thiêng lắm. Tuần đầu
tháng nào
ông cụ cũng hiện về. Lạ lắm. Bao giờ ông cụ cũng mặc bộ quần áo trắng
toát và
đứng trồng cây chuối giữa nhà”.
Câu
chuyện như một ám ảnh ma quái khiến không ai dám bén mảng đến
năm gian nhà thờ. Riêng bọn trẻ con lại càng khiếp đảm, cứ chập tối là
xuống
bếp bám lấy váy mẹ, thấy con đom đóm bay vào nhà thờ là sợ vãi đái ra
quần.
Những người không tin chuyện thần thánh tà
ma thì lại
muốn giải mã việc xây dựng từ đường chi họ Nguyễn Kỳ theo một hướng
khác. Họ
tập trung vào người con cả của ông Cử Phúc là Nguyễn Kỳ Khôi, một nhân
vật có
quyền chức, địa vị, người thành đạt nhất của chi họ Nguyễn Kỳ dưới chính
thể
nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Công
bằng mà nói, rất ít người làng Động biết đến cái tên Nguyễn
Kỳ Khôi. Đó là một cái tên chỉ gợi nhớ thời ấu thơ và chỉ những người
trong gia
đình thỉnh thoảng còn nhắc tới.
Nguyễn
Kỳ Khôi là con bà vợ cả ông Cử Phúc. Năm Khôi hai tuổi thì
bà cả mất vì hậu sản. Ông Cử Phúc lấy bà Vũ Thị Ân, con gái út cụ đồ
Hanh bên
kia sông làm vợ kế. Bà Ân sinh được hai con trai là Nguyễn Kỳ Vỹ, Nguyễn
Kỳ
Vọng và cô con gái út Nguyễn Thị Kỳ Hậu. Năm anh cả Nguyễn Kỳ Khôi mười
lăm
tuổi thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Đang học năm cuối lớp đệ nhất,
Khôi bỏ,
xung vào đội quân tuyên truyền của cách mạng, rồi thoát ly theo kháng
chiến.
Lên Việt Bắc, Khôi được tổ chức đổi tên thành Chiến Thắng Lợi, một cái
tên gắn
bó máu thịt với cuộc kháng chiến chống Pháp. Để có được một cái tên như
thế,
chứng tỏ Nguyễn Kỳ Khôi đã phải nỗ lực phấn đấu và trung thành tuyệt đối
để
được tin cậy đến mức nào.
Những
người thuộc thế hệ chống Pháp và chống Mỹ, hầu như ai cũng
biết đến cái tên Chiến Thắng Lợi, đồng chí Chiến Thắng Lợi. Có một bài
báo rất
có tiếng vang đăng trên tờ báo Thời Mới, ở chuyên mục “chân dung chiến
sĩ” đã
in một bài dài với tựa đề “Anh tôi - Chiến Thắng Lợi”. Tác giả là nhà
thơ
Nguyễn Kỳ Vỹ. Lần đầu tiên bạn đọc biết đến Nguyễn Kỳ Khôi, tức đồng chí
Chiến
Thắng Lợi là anh ruột nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ, một cây bút đang nổi như cồn
với
tập thơ “Thời của Thánh Thần”. Tác
giả kể về làng Động, về tuổi thơ của hai anh em, về cái lần anh Chiến
Thắng Lợi
từ vùng ATK về rủ Vỹ trốn nhà lên chiến khu Việt Bắc.
Thời kỳ
cải cách ruộng đất, cái tên Chiến Thắng Lợi xuất hiện khá
nhiều trên các văn bản, thông tri. Những người am hiểu về chính trị còn
biết
rằng sau này Chiến Thắng Lợi còn là nhà thiết kế, tác giả tinh thần của
nhiều
chủ trương lớn có tính chất quyết định những bước ngoặt của nền kinh tế
xã hội,
ví như cuộc cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc năm 1960, cuộc chuyển
đổi
kinh tế miền Nam năm 1976. Suốt những năm 1980, cái tên Chiến Thắng Lợi
đã trở
thành biểu tượng, niềm tự hào không chỉ của làng Động mà của cả huyện,
cả tỉnh
quê hương ông.
Cho nên,
ông Cục có tài thánh cũng không che được mắt thiên hạ. Bỏ
ra tiền tỷ để chuộc lại đất khu nhà thờ, rồi lại định phá sạch bách, xây
mới
toàn bộ khu từ đường chi họ Nguyễn Kỳ, phi bố con ông Chiến Thắng Lợi,
mấy anh
em ông Vỹ ông Vọng, ông Cục có mọc thêm ba đầu sáu tay nữa cũng cóc làm
nổi. Người
ta cam đoan như đinh đóng cột rằng, chiến dịch “hạ cánh an toàn” và
“chuyển lửa
về quê” của ông Chiến Thắng Lợi không thua kém gì việc Tào Tháo chuẩn bị
xây lăng
mộ trước khi chết. “Các cụ nói cấm có sai. Cáo chết ba năm quay đầu về
núi. Của
nả, bổng lộc tích cóp suốt mấy chục năm đi làm cách mạng rồi cuối cùng
cũng
phải chuyển về trả nghĩa tổ tiên, vinh danh cho dòng họ…” Người ta khẳng
định
với nhau thế. Có người còn bảo: “Bố con ông Chiến Thắng Lợi chính là
những tư
bản đỏ kếch xù. Nguyên vụ đổi tiền năm 1985, biết trước đồng tiền sẽ mất
giá,
ông thu gom tiền bạc đổi thành vàng hết. Chỉ năm sau, đã có cả núi vàng.
Rồi
anh con trai cả, trùm buôn lậu ở Nga, thu gom hết hàng hoá ở khu chợ
Vòm,
chuyển tiền về nước kìn kìn. Mấy bố con có tới ba trang trại ở Sóc Sơn,
Hoà
Lạc, Bình Dương, hai biệt thự cao cấp ở Hà Nội, Sài Gòn, lại nghe nói có
vài
chục triệu đô la gửi ngân hàng châu Âu nữa. Ông con quý tử Chiến Thống
Nhất,
mới hơn ba mươi tuổi, đã thành lập công ty riêng, buôn địa ốc, buôn ô
tô, tiền
tấn. Khác hẳn tính bố, Chiến Thống Nhất thuộc loại ăn chơi bốc trời. Một
năm
thay vài ba xe tô, vài ba cô bồ toàn loại người mẫu chân dài. Ngày bà cụ
Lý
Phúc còn sống, Nhất bảo: “Nhờ hồng phúc tổ tiên, bố cháu mới được như
thế này.
Rồi cháu sẽ sửa một lễ trọng trình với tổ tiên xin đổi lại họ Nguyễn Kỳ
bà ạ.
Cái tên Chiến Thống Nhất nghe nó… pê-đê lắm.”
Bà cụ
Phúc không hiểu pê-đê là gì, nhưng cụ tin rằng Chiến Thống
Nhất không phải là kẻ mất gốc.
***
Gia phả
họ Nguyễn ở làng Động ghi lại rằng, tổ họ chính là người
họ Lý, tên huý là Lý Kỳ Phong, quê gốc ở làng Đình Bảng, xứ Kinh Bắc.
Sách Đại
Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Nhâm Thìn,
Kiến Trung thứ tám, 1232, vì Nguyên tổ tên huý là Lý (Trần Lý), nhà Trần
cho
đổi triều Lý thành triều Nguyễn, vả lại cũng để dứt bỏ lòng mong nhớ của
dân
chúng đối với nhà Lý. Cũng mùa đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ tế
các vua
Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi
khi mọi
người uống rượu say, giật máy chôn sống hết”. Bấy giờ tổ họ Nguyễn
là người
nội tộc, đầu quân dưới trướng Hoàng tử Lý Long Tường con vua Lý Anh
tông, đồn
trú ở trấn Vân Đồn ngoài biển Đông Hải. Có tin mật báo từ kinh đô Thăng
Long về
âm mưu thâm độc của Trần Thủ Độ, Hoàng tử Lý Long Tường bèn bí mật tổ
chức cuộc
vượt biển, đưa vợ con gia đình rời bỏ đất Đại Việt. Lý Kỳ Phong được
giao một
nhiệm vụ đặc biệt: Thu mua hàng trăm con chó đóng cũi nhốt sẵn dưới
chiến
thuyền. Đây là thực phẩm trữ sẵn dành cho chuyến vượt biển dài ngày đầy
hiểm
nguy gian khổ. Lý Kỳ Phong đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Ngài gom được
hơn
năm trăm con chó tơ, chở ra Vân Đồn.
Nhưng
rồi đến ngày Hoàng tử Lý Long Tường cùng gia tộc, bộ hạ dong
buồm ngược hướng đông bắc nhằm nước Cao Ly khởi hành thì Lý Kỳ Phong
phải ở lại
vì vợ ngài trở dạ đẻ, tính mạng thập tử nhất sinh. Sau đó ngài tìm đường
đưa vợ
về làng Động quê ngoại đổi họ Lý thành họ Nguyễn để tránh cái hoạ tuyệt
diệt.
Gia phả
viết rằng kể từ thượng tổ Lý Kỳ Phong, làng Động khai sinh
dòng Nguyễn Lý. Cho tới thời Mạc - Sùng Khang năm thứ 13, Mậu Dần, 1578,
dòng
Nguyễn Lý làng Động tách ra một chi họ Nguyễn Kỳ.
Số là, vào thời kỳ đó,
có ông
thầy tướng người Tàu được mời về tìm đất để đặt lại ngôi mộ tổ. Do đãi
đằng
công sá không chu tất, ông thầy Tàu giở mặt, bèn yểm một lá bùa và
truyền rằng,
từ đây, anh em, bố con họ Nguyễn làng Động sẽ ganh ghét, hiềm khích,
thậm chí
chém giết nhau. Quả nhiên, ngay sau đó, hai ông trưởng, thứ mỗi ông theo
một
phe, ông chi trưởng theo quân của Thường Quốc công Nguyễn Quyện giúp Mạc
Mậu
Hợp chống lại nhà Hậu Lê, ông chi thứ theo quân của Tiết chế Trịnh Tùng,
phò Lê
diệt Mạc. Và hai anh em họ Nguyễn làng Động đã giết nhau tại cửa ngõ
thành
Thăng Long trong trận tử chiến tết Nhâm Thìn 1592, trận đánh quyết định
kết
liễu triều đại nhà Mạc.
Kể từ
cuộc huynh đệ tương tàn ấy cho đến đời ông Nguyễn Kỳ Phúc đã
mười bốn đời. Bố ông Nguyễn Kỳ Phúc là cụ đồ Nguyễn Kỳ Kha, bạn học với
Hoàng
giáp Nguyễn Thượng Hiền, người làng Bặt, từng tham gia phong trào Đông
Kinh
Nghĩa Thục. Ông Nguyễn Kỳ Phúc là con trai độc, được học hành chu đáo
tham gia
khoá thi nho học cuối cùng của triều Nguyễn năm 1919, đỗ Cử nhân, nhưng
vì phải
phụng dưỡng mẹ già, không ra làm quan, ở quê dạy học và bốc thuốc.
Khu từ
đường chi họ Nguyễn Kỳ là tác phẩm nghệ thuật của quan Đốc
học Nguyễn Kỳ Đồng, bố cụ Đồ Kha, ông nội ông Cử Phúc, xây dựng từ thời
vua Tự
Đức. Đây là một quần thể kiến trúc đậm tính Á Đông. Công trình chính,
nhà thờ
tổ, gồm năm gian chính điện có hậu cung hình chuôi vồ, được nối với nhà
tiền tế
bởi một nhà dọc, hai bên có hai giếng trời dùng làm sân hoa và dựng hòn
non bộ.
Nghe nói, làm công trình này, quan Đốc học đã nghiên cứu kiểu dáng Khiêm
cung
và Khiêm đăng do vua Tự Đức tự xây dựng cho mình ở kinh đô Huế, rồi mướn
chính
hiệp thợ làm Khiêm cung thi công.
Chính vì
thế mà các bức chạm trổ, phù điêu ở nóc, đầu hồi, câu đầu
quá giang… cho tới hoành phi câu đối đều rất tinh vi đầy tính nghệ
thuật. Hai
đầu hồi nhà tiền tế là hai nhà tả hữu vu, dãy làm nhà ở và thư phòng của
chủ
nhân, dãy làm lớp học và phòng khách. Tiếp sau đó là các dãy nhà ngang
cho con
sen người hầu, khu nhà kho, nhà bếp, góc xa nhất là chuồng trâu bò, lợn
gà…
Mênh mông như một sân vận động, lát toàn loại gạch Bát Tràng đỏ au là
sân chầu,
nơi diễn ra các hoạt động tế lễ và là nơi quan Đốc cùng bạn hữu chơi cờ
người.
Chính tại những cuộc đấu cờ người vô tiền khoáng hậu này mà nơi đây đã
từng thu
nhận nhiều tao nhân mặc khách. Cao thủ cờ khắp Bắc Trung Nam từng tìm
đến tỉ
thí. Văn nhân nghĩa hiệp mượn chén rượu cuộc cờ để tụ hội quần anh cũng
nhiều.
Nghe nói, bài thơ Đánh cờ người, nhại
lại giọng điệu của bà chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, cũng được các văn nhân
Bắc Hà
“sáng tác” tại đây.
Chàng với thiếp đêm khuya trằn
trọc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người…
Mới đầu vào chàng liền nhảy mã
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh
lên
Đôi xe hà chàng gác hai bên.
Sợ chiếu hết thiếp liền gánh
sĩ.
Chàng thấy thiếp đang trong thế
bí.
Liền vội vàng dí tốt vô cung…
Sau bức
đại bình phong đắp nổi bằng gốm sứ, là một hồ sen bán
nguyệt, có cầu Nguyệt Kiều nối với đảo Ngọc, trên đảo có lầu Bát Toạ,
nơi để
câu cá, làm thơ và thưởng ngoạn. Cả một quần thể công trình kiến trúc
văn hoá
rộng tới hai mẫu Bắc Bộ, tương đương bẩy nghìn mét vuông, được xây tường
gạch
vồ bao quanh, vừa thâm nghiêm như chốn công đường, vừa ấm cúng êm đềm
như một
tĩnh viên rợp bóng cây xanh và rộn tiếng chim lạ.
Cái tên “Nguyễn Kỳ Viên”
chính là sự phát hiện, là quà tặng của một khách văn chương nhân chuyến
đến
thăm quan Đốc học Nguyễn Kỳ Đồng. Quá cảm kích và tâm đắc với quà tặng
của bạn,
quan Đốc học lưu bạn ở lại để lưu bút rồi sửa một cái lễ trình với tiên
tổ, gọi
thợ cho xây lại cổng lớn, đắp nổi ba chữ đại “Nguyễn Kỳ Viên”
của khách văn lên.
Cũng
nhân việc xin chữ, quan Đốc học lại được bạn khách văn viết
cho ba chữ lớn “Dương Nhất Chân”, sau
thuê thợ mộc làng Chuồn khảm trai treo trang trọng trước bàn thờ tổ.
Những
người biết chữ nho đều đọc được, nhưng ít người hiểu được nghĩa ba chữ
đại này.
Người khách văn giảng giải: Đây là ý lấy trong hai câu thơ của Đại danh y
Hải
Thượng Lãn Ông viết trên đường thượng Kinh chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm
và thế
tử Trịnh Cán: độn thế tòng y dưỡng nhất chân. Bất tri vi phú khơi tri
bần”
(Trốn đời theo nghề thuốc để giữ cái mộc mạc của mình. Không biết làm
giàu há
có biết chi cái sự nghèo). Ba chữ đại này còn có ý nói chi họ Nguyễn Kỳ
sẽ có
người theo nghề y, việc này quả ứng ngay với con cụ Đồ Kha, tức là ông
Cử Phúc.
Sau này, có nhà nghiên cứu thư pháp, đối chiếu mẫu tự, cho rằng người
khách văn
đó chính là cụ Tam nguyên Yên Đổ. Nhà thơ Nguyễn Khuyến là bạn của ông
Nghè
Dương Khuê, người làng Phương Đình. Ông Nghè Phương Đình lại là chỗ
thông gia
bạn hữu với quan Đốc học Nguyễn Kỳ Đồng. Văn chương kim cổ nhi huynh đệ,
chính
là vậy.
Sau vụ
cụ Đồ Kha bị Tây bắt đi tù vì bị nghi một bài thơ cụ viết
có tư tưởng chống đối nước mẹ Đại Pháp và nhất là sau trận ốm liệt
giường cuối
đời cụ đồ, kết quả của sáu tháng tù đày trong nhà lao thực dân, gia cảnh
nhà
ông Cử Phúc đã sa sút lắm rồi. Những thửa ruộng thượng đẳng điền ở gần
làng và
đàn trâu bò lần lượt bị bán đi để lo lót cửa quan, để chạy chữa thuốc
thang cho
cụ đồ, rồi lo tiền ăn học cho bốn cậu con trai. Sau ngày cậu cả Khôi,
cậu hai
Vỹ đi kháng chiến, thì tốn kém nhất lại là tiền ăn học của cậu ba Vọng.
Từ lớp
Đệ tứ, Vọng đã phải đi trọ học trên phủ Phương Đình. Đến khi lên Đệ nhị,
Đệ
nhất, Tú tài năm thứ nhất thì phải gửi ra học ngoài Hà Nội. Mỗi bồ chữ
là một
mẫu ruộng, một con trâu. Bà Cử Phúc suốt ngày đầu tắt mặt tối, cơm hẩm
cà hưu,
như cảnh bà Tú thành Nam của Tú Xương:
“Quanh năm buôn bán ở mom
sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Cho tới
đợt giảm tô, năm 1954, gia sản của ông bà Cử Phúc chỉ còn
lại sáu mẫu, ba sào ruộng, hai con trâu, một con nghé và khu nhà thờ cổ
kính có
tuổi hơn trăm năm, cùng một Nguyễn Kỳ
Viên u trầm thơ mộng.
Tuy cảnh
nhà sa sút, nhưng ông Cử Phúc lại ngầm có sự mãn nguyện
và kiêu ngạo của kẻ sĩ đắc chí. Là một đại biểu cuối cùng của nền nho
học hủ
lậu và yếm thế, ông Cử Phúc từng công khai thú nhận với bạn bè, đồng môn
về sự
bỏ đi, sự hèn nhát, bất lực trước thời cuộc của mình. Ông tự hào và kỳ
vọng ở
hai cậu con trai Nguyễn Kỳ Khôi, Nguyễn Kỳ Vỹ. Đó là sự kỳ vọng, sự gửi
gắm, và
cao hơn thế là sự dâng hiến của đời ông, gia tộc ông cho công cuộc kháng
chiến,
giải phóng dân tộc. Rất nhiều đêm không ngủ, ông ngồi co ro trên chiếc
sập gụ
giữa nhà, uống trà, hút thuốc lào vặt, mắt nhìn sâu vào cõi xa xăm, tai
lắng
nghe tiếng ì ùng từ vùng núi Kim Bôi rất xa vọng lại. Và ông tưởng tượng
ra
cảnh hai thằng con trai ông đang xông pha chiến trận, đang theo bộ đội
Cụ Hồ mở
mặt trận Hoà Bình, Tây Bắc… Chiến thắng Điện Biên Phủ như chớp sáng chói
loà,
như hào quang rực rỡ, tưởng sẽ tràn ngập vĩnh cửu thế gian, tuôn tràn
nhựa sống
khắp làng Động, khắp Nguyễn Kỳ Viên
của ông Cử Phúc, nào ngờ đất trời bỗng tối sầm lại khi cơn bão đen năm
Ất Mùi,
1955, ập đến.
Hai
người con trai tham gia kháng chiến cũng không cứu nổi ông bố
bị quy là địa chủ cường hào, không giải thoát nổi ông khỏi cuộc đấu tố
long
trời lở đất của ông bà nông dân đang vùng lên tiêu diệt giai cấp bóc
lột. Ông
Cử Phúc già sọp như một lão tám mươi. Luồng hắc phong với xú khí nồng
nặc và ám
khí tử thần đã đập phá tan tành Nguyễn Kỳ
Viên, cuốn bay hai sân hoa kiểng với nhiều loại kỳ hoa dị thảo hàng
trăm
năm tuổi, đập vỡ hết thảy những bình gốm sứ, nghê rồng từ thời Lý, Trần,
từ
thời Minh, Thanh, Trung Quốc. Lần lượt lầu Bát Toạ, cầu Kỳ Nguyệt bị
giật đổ.
Từ hoành phi câu đối cho tới bút tích của Tam Nguyên Yên Đổ, hàng trăm
cuốn
sách thuốc, sách chữ thánh hiền đều bị đốt trụi, bị quăng xuống hồ, lẫn
với tre
xoan bị chặt hạ, lẫn với ván thôi, xác chuột và phân người. Cái sân gạch
rộng
mênh mông như sân đình bị cuốc lên, chia nhỏ từng mảnh cho các ông bà
nông dân
trồng khoai, trồng cà. Sáu hộ bần cố nông chia nhau quả thực, chiếm giữ
hai dãy
nhà tả hữu vu, nhà ngang, và cả ngôi nhà thờ Gạch ở sân được dùng để xây
những
bức tường ngăn giữa các hộ, như những lô cốt cố thủ, rồi xây thêm sáu
khu bếp,
chuồng lợn, chuồng trâu. Riêng chuyện đi ỉa thì mạnh ai người nấy phóng
ra
vườn, sau những bụi chuối và các đống rơm rạ, hoặc phóng thẳng xuống cái
hồ nay
đã thành một mảnh ao tù.
Hơn bốn
mươi năm trôi qua. Nguyễn Kỳ từ đường, Nguyễn Kỳ Viên
tưởng mãi mãi phế tích,
tưởng sẽ dần bị huỷ hoại, bị xoá hẳn dấu tích trên thế gian. Nào ngờ,
như trong
huyền thoại, vào giữa năm 1995 một dự án lớn phục chế và tôn tạo Nguyễn Kỳ Viên đã được hình thành. Để
chuẩn bị cho công trình thế kỷ này, ngay từ năm 1985, giai đoạn một của
dự án
đã hoàn tất. Khuôn viên bẩy nghìn mét vuông của Nguyễn Kỳ
Viên đã được chuộc lại hoàn toàn. Sáu hộ ngày cải cách
ruộng đất giờ đã sinh sôi thành mười tám gia đình vợ chồng con cái, tạo
thành
một tụ điểm chật chội và đầy tệ nạn cờ bạc, hút sách, trộm cắp… Nhưng
rồi vợ
chồng ông Cục cũng giải quyết êm gọn. Tiền nhiều là xong béng. Bẩy hộ ẵm
tiền
vào Lâm Đồng, Sông Bé lập khu kinh tế mới, mua đất trồng cà phê, cao su.
Ba hộ
kéo nhau ra Hà Nội bán phở, làm cốp pha. Những hộ còn lại ra khu dãn dân
đầu
làng mở quán karaokê, bia hơi, bơm sửa xe máy, xe đạp.
Công
cuộc xây dựng lại toàn bộ Nguyễn
Kỳ Viên dự kiến sẽ kéo dài trong hai năm, do ông Nguyễn Kỳ Quặc cùng
con
trai Nguyễn Kỳ Tác, con rể Đinh Mạn, được giao quản lý thi công. Đích
thân ông
Cục đã chầu chực hàng tuần lễ, mời bằng được thầy Cao, một thầy phong
thuỷ và
tướng số giỏi nhất vùng về tính toán giúp. Bản vẽ thiết kế toàn cảnh và
thiết
kế chi tiết đặt hàng Viện Quy hoạch và Kiến trúc thực hiện. Đúng như lời
dặn
của Cụ Hồ: “Còn non còn nước còn người.
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Nguyễn
Kỳ Viên sẽ to đẹp gấp mười lần ngày xưa.
Hãy xem
bản vẽ tổng thể do kiến trúc sư vừa tốt nghiệp loại ưu
Nguyễn Kỳ Tác, con trai út ông Cục phác thảo, để mường tượng ra một Nguyễn Kỳ Viên của ngày mai: Bắt đầu từ
ngoài con đường rẽ cuối làng vào là chiếc cổng lớn có hàng đại tự chữ
Hán kèm
chữ Quốc ngữ: Nguyễn Kỳ Viên Nguyễn Kỳ Từ
Đường” với bốn hàng trụ biểu, chia thành cổng lớn và hai cổng phụ,
hai trụ
chính cao tới hơn mười mét, như hai ngọn tháp. Tiếp đến là chiếc hồ lớn
được
tạo dáng và kè bờ bằng đá hộc miết mạch xung quanh như những hồ bơi của
các khu
resort hay các khách sạn quốc tế năm sao. Giữa hồ là đảo Ngọc, lầu bát
giác,
được nối bởi Nguyệt Kiều điệu đàng như một cầu cổ trong Tử Cấm thành của
Bắc
Kinh. Chiếc sân chầu ngày xưa nay sẽ mở rộng hơn và được lát bằng thứ
gạch bát
Giếng Đáy đỏ au. Quan trọng nhất, vĩ đại nhất, không thua kém gì nhà
Thái Học ở
Văn Miếu Quốc Tử Giám là ngôi từ đường chi họ Nguyễn Kỳ.
Năm gian
nhà phỏng theo kiểu cổ, đầu đao cong vút. Xi măng sắt
thép toàn loại thượng hạng, ngói mũi hài Hương Canh, gạch xây, gạch ốp
lát
Giếng Đáy, đồ gốm sứ Bát Tràng. Riêng phần gỗ, thì đừng đùa với thợ xẻ
làng
Động, toàn chủng loại sưa, trắc, lim, lát, vàng tâm… Độc đáo nhất là
những bức
chạm trổ đầu hồi, những bình phong, trụ, xà đều bằng loại gỗ sưa có màu
đỏ thẫm
và hương thơm đặc biệt, giá được tính như gỗ trầm, vài trăm nghìn đồng
một kilôgam,
thứ đến là hàng cột cái hai mươi tư chiếc, toàn một thứ gỗ lim lõi đặc
chở từ
những cánh rừng Thượng Lào về, trong đó mười hai chiếc cột giữa, mỗi cột
cao
tới bẩy mét, đường kính khoát ba mươi phân, không thua kém gì những cột
đình
được xếp hạng di tích.
Phần
diện tích tuy nhỏ nhưng được đầu tư nhiều công sức, tiền bạc
là phần hậu cung chuôi vồ ở gian chính giữa nhà thờ. Gian hậu cũng được
xây cao
vượt lên, kiến trúc theo lối nhà chồng diềm tám mái, có lan can, cửa
kính lùa
chạy xung quanh. Đây là điện thờ, với những khán thờ cổ xưa, những báu
vật của
chi họ, như gia phả, sắc phong, mũ mãng, triều phục, ấn kiếm, tàng thư…
Trong
những thứ gia bảo được thờ ở ngôi từ đường mới, sẽ có một
linh vật đặc biệt do chính ông Cục lưu giữ còn hơn con ngươi của mắt
mình. Rồi
tự tay ông sẽ bí mật đặt linh vật này vào trong hộp đựng sắc phong của
chi họ.
Đó là
một sợi dây thừng, tím đen những vết máu, đầu dây lòn thít
chặt một ngón chân cái đã thâm xỉn, như một mẩu gỗ lim.
DANH MỤC:

 | | Lượt truy cập: 16193 Powered by EasyVN - A free personal website provider
|
|